duoc nam sach

......Niềm tin và Chất lượng....... Blogger Tricks

LIÊN KẾT WEBSITE

Lãi suất ngân hàng

Thời tiết, tỉ giá


Đọc báo online

danh ngôn

âm nhạc

ngôn ngữ các nước


Hỗ trợ trực tuyến

  • (quangdains@yahoo.com.vn)

giọng ca đan nguyên

lượt truy cập

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • happy new year

    Gốc > Bệnh lý >

    Ung thư vú

    Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới cũng như ở ViệtNam. Ðây là một bệnh hết sức phức tạp mà trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân, bệnh sinh và điều trị.

    9b4e9dd4-aa48-432f-b901-2e2524f3f85c_zpsa33ebcfc_01

    Ở một số nước phát triển như Mỹ, Pháp cứ 8 phụ nữ thì có một người mắc ung thư vú. Tỉ lệ mắc căn bệnh này có xu hướng gia tăng nhưng tỉ lệ tử vong vẫn từng bước được cải thiện nhờ những thành tựu đạt được trong phòng bệnh, sàng lọc và phát hiện sớm.

    Các yếu tố nguy cơ

    Nguyên nhân của ung thư vú chưa được biết rõ, nhưng với những nghiên cứu dịch tễ học cùng với những hiểu biết sâu hơn về sinh học của tế bào tuyến vú đã mang lại những cơ sở mới cho bệnh này. Dưới đây chỉ nói về những yếu tố nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ.

    Những phụ nữ trong gia đình có nhiều người bị ung thư vú hoặc có 2 người rất gần (mẹ, chị/em gái) bị bệnh thì có thể có nguy cơ mắc bệnh. Các yếu tố nguy cơ khác như sự đột biến của một số gen; lối sống (ăn thức ăn nhiều mỡ); tuổi cao (trên 35 tuổi); chịu tác động lâu dài của oestrogen (phụ nữ có kinh nguyệt trước 12 tuổi và mãn kinh sau 55 tuổi); có con muộn; không cho con bú; không sinh con; béo phì sau mãn kinh; dùng hormone thay thế… Ngoài ra các yếu tố từ môi trường ô nhiễm như hút thuốc, ô nhiễm công nghiệp, khói xe và hóa chất… đều được coi là yếu tố nguy cơ cao trong bệnh ung thư vú.

     

    Dấu hiệu nhận biết bệnh ung thư vú

    Đa phần ung thư vú được phát hiện là do chính người bệnh, khi họ ghi nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất đó là một khối u hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú. Hoặc cũng có thể do thầy thuốc phát hiện qua một lần khám sức khỏe thường kỳ.

    Cần phải nghi ngờ ung thư vú khi thấy bất kỳ u, bướu nào ở vú ở phụ nữ trên 30 tuổi cho đến khi có triệu chứng chính xác, ngược lại mặc dù có khoảng 80% khối bất thường ở vú là lành tính. Những tính chất sau của khối u gợi ý ác tính: cứng; không đau (chiếm khoảng trên 80%); không đồng nhất, bờ không rõ; dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động; núm vú bị thay đổi; vú to ra hoặc thay đổi hình dáng, da vùng vú thay đổi; chảy máu.

    Ở tình huống muộn hơn, bệnh nhân sẽ biểu hiện các triệu chứng: có hạch nách hoặc hạch ở hố trên xương đòn; tràn dịch màng phổi; tràn dịch màng ngoài tim; gãy xương (khi ung thư đã di căn vào xương ); gan to. Khi khối u di căn lên não làm bệnh nhân đau đầu, hôn mê; chèn ép cột sống làm bệnh nhân đau lưng, yếu liệt tay chân…

     

    Các giai đoạn phát triển ung thư thư vú là gì?

     

    Khi đã nhắc tới bệnh ung thư, thuật ngữ “các giai đoạn phát triển bệnh” được hiểu là mức độ bệnh nặng đến đâu. Việc xác định các giai đoạn ung thư vú  dựa vào kích thước của khối u, mức độ lây lan của khối u sang các phần khác của cơ thể như các hạch bạch huyết. 

     

    Xác định giai đoạn ung thư là điều rất quan trọng vì nó giúp các chuyên gia y tế lựa chọn điều trị tốt nhất cho bệnh nhân.

     

    Các giai đoạn của ung thư vú bắt đầu từ 0 và đi lên đến 4 (nhưng được kí hiệu bằng chữ số La Mã là 0, I, II, III và IV). Thông thường, ở giai đoạn thấp hơn có nghĩa là mức độ lây lan của khối u nhỏ hơn, càng các giai đoạn sau, khôi u gây ung thư càng lan rộng.

     

    Căn cứ để phân chia các giai đoạn ung thư vú là:

     

    - Các loại khối u

    - Có hoặc không có các hạch bạch huyết có liên quan đến bệnh

    - Mức độ lan rộng của bệnh ung thư

     

    Các giai đoạn phát triển của bệnh ung thư vú:

     

    Giai đoạn 0 

     

    Đây là giai đoạn đầu của bệnh ung thư, còn gọi là ung thư “tại chỗ” (có thể là ung thư tại các tế bào mang sữa hoặc ung thư trong các tế bào của tuyến sản sinh ra sữa). Ở giai đoạn này, các tế bào ung thư chỉ phát triển ở một khu vực nhất định chứ không lan ra ngoài. Nó không xâm lấn đến các mô nằm xung quanh. Sau khi cắt bỏ, các tế bào này sẽ không lan rộng ra.

     

    Điều trị: Nếu là ung thư trong các tế bào của tuyến sản sinh ra sữa thì các bác sĩ có thể điều trị bằng phương pháp phẫu thuật và xạ trị, còn ung thư ở tế bào mang sữa thì cần theo dõi thêm chứ chưa xử lý ngay.

     

     

     

    Giai đoạn I

     

    Khối u đã di căn vào các bộ phận lân cận của vú, nhưng lan vào các hạch ở nách. Khối u có kích thước 2 cm hoặc nhỏ hơn.

     

    Điều trị: Phương pháp thường được áp dụng là phẫu thuật kèm theo xạ trị. 

     

    Nếu khối u được phát hiện sớm thì có thể được tiến hành phẫu thuật để loại bỏ cả vú. Sau khi cắt bỏ tuyến vú, việc tái tạo vú có thể dễ dàng thực hiện ngay sau khi phẫu thuật.

     

     

    Giai đoạn II

     

    Ở giai đoạn này, khối u có kích thước 2-5 cm. Khối u có thể đã lan sang các hạch ở nách hoặc các hạch nội tiết gần đó hay cả hai. 

     

    Điều trị: Phẫu thuật và xạ trị là phương pháp điều trị thông thường. Xạ trị có thể được xem xét thực hiện ngay cả sau khi cắt bỏ tuyến vú. Ngoài ra, bệnh nhân có thể được điều trị bổ trợ bằng liệu pháp hormone hoặc hóa trị sau khi phẫu thuật. Cơ hội sống còn sau mười năm tùy thuộc vào kích thước của ung thư và bao nhiêu hạch bị lây lan.

     

     

    Giai đoạn III 

     

    Khối u đã lớn hơn 5 cm, hoặc đã lan rộng đến các mô xung quanh vú, chẳng hạn như da, cơ bắp hay xương đòn.

     

    Điều trị: Đây là thời kỳ bệnh đã phát triển khá nặng và có cơ hội mắc bệnh ung thư vú trở lại hay lây lan qua các bộ phận khác rất cao. Cách chữa thường bắt đầu bằng hóa chất trị liệu (chemotherapy), sau đó là giải phẫu và xạ trị.

     

     

    Giai đoạn IV

     

    Khối u đã lan rộng ra ngoài khu vực vú và có thể gây ra các biến chứng, ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể như cổ, phổi, gan, xương, hoặc não. Ở giai đoạn này, bệnh nhân có nguy cơ mất mạng vì bệnh trong vòng năm năm rất cao.

     

    Điều trị: Điều trị toàn thân bằng hóa trị liệu là điều trị chính. Xạ trị và phẫu thuật cũng có thể được sử dụng để giúp làm giảm một số triệu chứng nhất định.

     

     

    Ung thư vú nếu được khám phá càng sớm bao nhiêu thì cơ hội sống càng cao bấy nhiêu.  Do đó, tất cả chị em nên quan tâm đến việc tầm soát bệnh để tránh những hậu quả đáng tiếc.

     

    Ðiều trị bệnh ung thư vú

    Phẫu thuật cắt bỏ vú là điều trị chủ yếu. Nếu ở giai đoạn sớm có tỉ lệ khỏi bệnh là 98-99%, chỉ khoảng 1-2% trường hợp tái phát. Phẫu thuật cắt bỏ vú tận gốc ngày nay ít được dùng vì mức tàn phá rộng, để lại nhiều di chứng nặng nề cho bệnh nhân. Phương pháp điều trị bảo tồn vú đang là hướng đi mới, chỉ mổ lấy rộng khối u cùng xạ trị hỗ trợ cũng khá hiệu quả. Tỉ lệ tái phát từ 7-13%. Các loại phẫu thuật ít tàn phá hơn, bảo tồn các cơ ngực lớn, bé càng ngày càng cho thấy hiệu quả trong việc điều trị tại chỗ căn bệnh. Tuy nhiên, có một số chống chỉ định của phương pháp điều trị bảo tồn vú, đó là:

    Có hai hoặc nhiều khối u nằm ở các góc phần tư khác nhau của vú.

    U lan tỏa, giới hạn không rõ.

    U to nằm trong tuyến vú nhỏ.

    U nằm ở vị trí trung tâm của vú.

    Nạo hạch cũng là một phần của phẫu thuật. Nhất là nạo hạch lympho vùng nách rất cần cho đánh giá tiên lượng.

    Xạ trị hỗ trợ là một phần của phương pháp điều trị bảo tồn, được tiến hành sau phẫu thuật cắt u. Xạ trị giúp giảm nguy cơ tái phát cho những bệnh nhân nguy cơ cao như bệnh nhân có nhiều hạch vùng, bệnh nhân có u nguyên phát to.

    Liệu pháp toàn thân: nguy cơ di căn vi thể ở những ung thư giai đoạn sớm là có. Vì vậy, hóa trị và nội tiết là những biện pháp điều trị toàn thân có thể diệt các tế bào ác tính lan tràn. Ở các giai đoạn muộn hơn, hóa trị và nội tiết trị liệu còn có thể làm giảm bớt thể tích khối u, chuyển từ giai đoạn không mổ được thành mổ được hoặc kéo dài thời gian sống và chất lượng sống của người bệnh.

    Cách phát hiện sớm bệnh ung thư vú

    Tự khám vú

    Phương pháp tự khám vú được khuyến cáo tiến hành hàng tháng sau sạch kinh 5 ngày đối với phụ nữ từ 20 tuổi trở lên. Phương pháp này nếu được thực hiện đúng cách có thể giúp người bệnh phát hiện sớm một khối u ở vú, được điều trị sớm và vì vậy tiên lượng tốt hơn.

    Đứng trước gương trong phòng có đủ ánh sáng, cởi trần, cánh tay buông xuôi hai bên hông, rồi đổi tư thế:hai tay để phía sau hông, nghiêng nhẹ người tới trước; đưa tay ra sau gáy, sau đó quan sát lại; chống tay lên hông làm cử động cơ ngực lên xuống bằng động tác nâng vai lên hay hạ vai xuống. Quan sát cả hai vú xem có thay đổi gì về kích thước (một bên lớn hơn thường lệ, hoặc teo nhỏ lại), da vú (sần da cam, da lõm xuống). Ấn nhẹ núm vú xem có máu hoặc chất dịch chảy ra không.

    Sờ nắn: đưa tay phải ra sau gáy, dùng tay trái sờ nắn vú phải, 4 ngón tay đặt sát vào nhau thành một mặt phẳng, ép đều đặn lên các vùng khác nhau của tuyến vú vào thành ngực theo hướng vòng xoáy ốc từ đầu vú trở ra ngoài; kiểm tra từng vùng của vú và cả về phía hố nách. Sau đó làm tương tự với vú bên trái.

    Nằm ngửa thoải mái, kê gối mỏng ở dưới lưng bên trái; lặp lại quá trình sờ nắn sau đó chuyển gối làm lại cho bên phải.

    Qua mỗi lần tự khám như vậy, nếu thấy khối u, hạch hoặc mảng cứng bất thường, chị em nên tới cơ sở chuyên khoa để xác định lại.

    Chụp vú

    Chụp vú có ưu thế rõ rệt là có thể phát hiện các tổn thương bất thường ở tuyến vú ngay cả trên lâm sàng chưa sờ thấy có khối u. Nếu khối u vú được bác sĩ phát hiện và khẳng định thì việc chụp Xquang vú nên được thực hiện. Phụ nữ trên 40 tuổi nên chụp vú hàng năm. Nếu trong gia đình có người bị ung thư vú thì nên chụp vú kiểm tra bắt đầu từ 30 tuổi.

    Chụp vú là phương pháp được tiến hành rộng rãi ở các nước phát triển. Tại các nước này, người ta tiến hành chụp hàng loạt nhằm phát hiện ra các ung thư vú ở giai đoạn tiền lâm sàng. Ở giai đoạn này, thầy thuốc cũng như bệnh nhân không sờ thấy u mà bệnh chỉ được phát hiện dựa trên hình ảnh canxi hóa qua phim chụp vú sau đó người bệnh được định vị, sinh thiết để chẩn đoán xác định.

    Một số tiến bộ trong phát hiện sớm bệnh ung thư vú

    Sử dụng máy vi tính để đọc phim chụp tuyến vú

    Người ta sử dụng hệ thống phát hiện có máy tính hỗ trợ để chỉ điểm những vùng bất thường nhỏ trên phim chụp mà một chuyên gia có thể bỏ sót khi đọc bằng mắt thường. Hệ thống sẽ đánh dấu những vùng nghi ngờ trên phim chụp để sau đó bác sĩ xem lại. Tuy không thay thế được bác sĩ đọc phim, nhưng hệ thống giúp làm giảm số người bị ung thư sớm bị bỏ sót. Những phụ nữ được chẩn đoán sớm này khi được chữa trị kịp thời sẽ có kết quả rất tốt và có thể khỏi bệnh.

    Công nghệ chụp ảnh kỹ thuật số

    Phương pháp này cho phép bác sĩ đọc kết quả điều chỉnh hình ảnh để có hình ảnh tối ưu hoặc phóng to làm cho công việc đọc dễ dàng hơn. Việc lưu trữ những hình ảnh kỹ thuật số chiếm ít không gian hơn và có thể bảo quản trong thời gian dài hơn. Ngoài ra với việc nối mạng giữa các máy tính, các bác sĩ ở các khoa, bệnh viện khác nhau, thậm chí ở các nước khác nhau có thể cùng xem hình ảnh và cho ý kiến đóng góp.

    Tổng hợp hình ảnh kỹ thuật số khi chụp tuyến vú

    Các nhà khoa học đang đánh giá một phương pháp mới để phát hiện sớm ung thư vú có tên “ductal lavage” tạm dịch là “rửa ống tuyến”. Trong phương pháp này, người ta lắp ống nhỏ vào đầu vú và bơm xối dịch vào trong các ống tuyến sữa làm cho một số tế bào bong ra. Sau đó dịch được hút ra, đưa tới phòng thí nghiệm để bác sĩ quan sát dưới kính hiển vi tìm xem có tế bào ung thư hoặc tế bào chỉ mới bắt đầu chuyển thành ung thư. Nếu có tế bào bất thường thì phương pháp này chưa cho biết chính xác ổ bệnh nằm ở vị trí nào trong vú, do đó cần phối phợp rửa ống tuyến với các phương pháp khác như chụp tuyến vú… Phương pháp tìm tế bào bong đã được áp dụng để phát hiện sớm một số ung thư khác đặc biệt là ung thư cổ tử cung. Tuy vậy, đối với ung thư vú, phương pháp còn khá mới và cần thời gian để đánh giá hiệu quả.

    Chụp tuyến vú bằng cộng hưởng từ (MRI)

    Một số nước đang nghiên cứu áp dụng phương pháp này cho những phụ nữ có nguy cơ cao bị ung thư vú (đột biến gen BRCA1 và /hoặc BRCA2). Chụp cộng hưởng từ có thể phát hiện được ổ bệnh nằm giữa vùng tuyến dày đặc khó quan sát được trên phim chụp thường, MRI có khả năng phát hiện bệnh gấp đôi. Nếu kết hợp cả hai phương pháp, số trường hợp bị bỏ sót chỉ rất ít. Chụp cộng hưởng từ là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi thiết bị và người đọc chuyên biệt, khó áp dụng rộng rãi như chụp tuyến vú thông thường.

    Sử dụng đồng vị phóng xạ

    Một phương pháp mới có tên sestamibi hoặc có nơi gọi là miraluama sử dụng đồng vị phóng xạ technetium 99 (Tc-99) và ghi lại hình tuyến vú giúp phát hiện khối u tương đối sớm. Cho đến nay, phương pháp không thể sử dụng đơn độc để phát hiện sớm ung thư vú và cần được đánh giá thêm.

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Vương Thị Hiền @ 10:24 02/09/2013
    Số lượt xem: 217
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Chào các bạn đã truy cập vào website: duocnamsach